TrungTamDinhGia.comTrung Tâm Định Giá
Định giá tài sản vô hình

Định giá quan hệ khách hàng và danh sách khách hàng: tỷ lệ rời bỏ và cách tính

Quan hệ khách hàng thường là tài sản vô hình lớn nhất khi mua doanh nghiệp. Bài phân biệt các loại, cách đo tỷ lệ rời bỏ theo nhóm và tính giá trị bằng ví dụ.

Wide shot of a busy Vietnamese wholesale warehouse at dawn, workers seen from behind loading unmarked cardboard boxes onto a small truck, golden haze, ochre and dusty blue palette

Định giá quan hệ khách hàng là ước tính hiện giá lợi nhuận mà nhóm khách hàng hiện có tại ngày định giá sẽ còn mang lại, sau khi trừ phần đóng góp của các tài sản khác và tính đến việc khách hàng rời đi dần theo thời gian. Trong các thương vụ mua doanh nghiệp phân phối, dịch vụ doanh nghiệp, logistics hay phần mềm thuê bao, đây thường là tài sản vô hình lớn nhất được nhận diện.

Thông số quyết định là tỷ lệ rời bỏ: mỗi năm bao nhiêu phần doanh thu từ khách hàng cũ biến mất. Tỷ lệ này phải đo từ dữ liệu giao dịch thật theo từng nhóm khách hàng, không đoán. Danh sách khách hàng thuần tuý (tên, liên hệ, lịch sử mua) là tài sản khác, giá trị thấp hơn nhiều, thường định giá theo chi phí tái tạo, và bị ràng buộc bởi quy định bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Bốn tài sản liên quan khách hàng: đừng gộp làm một

Phần hướng dẫn của IFRS 3 tách các tài sản liên quan khách hàng thành nhiều loại. Mỗi loại có nguồn giá trị và cách định giá riêng; gộp chúng lại là cách nhanh nhất để đếm trùng.

Tài sảnBản chấtNguồn giá trịCách định giá hay dùng
Danh sách khách hàngThông tin về khách: tên, liên hệ, lịch sử mua, nhu cầuGiúp tiếp cận khách nhanh hơn, rẻ hơnChi phí tái tạo, đôi khi giá giao dịch dữ liệu hợp pháp
Đơn hàng tồn (backlog)Đơn đặt hàng hoặc hợp đồng đã ký chưa thực hiệnLợi nhuận chắc chắn của khối lượng đã cam kếtThu nhập: lợi nhuận còn lại của đơn sau phí đóng góp
Hợp đồng khách hàng và quan hệ liên quanHợp đồng còn hiệu lực cộng khả năng gia hạnDoanh thu theo hợp đồng và xác suất tái kýThu nhập vượt mức nhiều kỳ với tỷ lệ gia hạn
Quan hệ khách hàng không hợp đồngKhách mua lặp lại theo thói quen, không ràng buộcDoanh thu lặp lại kỳ vọngThu nhập vượt mức nhiều kỳ với tỷ lệ rời bỏ

Điểm cần nhớ: đơn hàng tồn và quan hệ khách hàng dùng chung một nguồn doanh thu ở giai đoạn đầu. Nếu định giá đơn hàng tồn riêng, phần doanh thu đó phải được loại khỏi mô hình quan hệ khách hàng trong những kỳ tương ứng, nếu không cùng một đồng doanh thu được tính hai lần.

Danh sách khách hàng và quan hệ khách hàng cũng thường chồng nhau. Trong đa số thương vụ, giá trị của danh sách đã nằm trong quan hệ khách hàng; chỉ tách riêng khi danh sách có thể bán hoặc khai thác độc lập, ví dụ dữ liệu khách hàng tiềm năng chưa mua.

Vì sao chỉ tính khách hàng hiện hữu

Nguyên tắc cốt lõi khi định giá quan hệ khách hàng là chỉ tính khách hàng có tại ngày định giá. Doanh thu từ khách hàng sẽ có trong tương lai không thuộc tài sản này, vì nó phụ thuộc vào nỗ lực bán hàng, thương hiệu, sản phẩm mới, và theo chuẩn mực kế toán nó nằm trong lợi thế thương mại. Một doanh nghiệp đang tăng trưởng nhanh có thể có doanh thu tăng mạnh, nhưng giá trị quan hệ khách hàng hiện hữu vẫn chỉ là dòng doanh thu giảm dần của nhóm khách cũ.

Nguyên tắc này có hệ quả với cả doanh thu và chi phí. Về doanh thu, cần tách tăng trưởng từ khách cũ (mua nhiều hơn, tăng giá) và từ khách mới. Tăng giá theo lạm phát và tăng mua của khách hiện có thường được tính vào tài sản, vì chúng đến từ quan hệ sẵn có. Về chi phí, mọi khoản chi để tìm khách mới (quảng cáo thu hút, hoa hồng mở khách, đội phát triển thị trường) phải loại khỏi mô hình, vì chúng không phục vụ khách hiện hữu. Quên loại chi phí này làm giá trị bị đánh giá thấp; quên loại doanh thu khách mới làm giá trị bị thổi phồng.

Ranh giới giữa khách cũ và khách mới đôi khi mờ. Một công ty con mới của khách hàng hiện có là khách cũ hay khách mới? Một khách lâu không mua rồi quay lại thì sao? Báo cáo nên nêu rõ quy ước, áp dụng nhất quán khi đo tỷ lệ rời bỏ và khi dự báo.

Đo tỷ lệ rời bỏ: phân tích theo nhóm và đường sống sót

Cách đáng tin nhất là phân tích theo nhóm khách hàng (cohort): chia khách theo năm bắt đầu mua, rồi theo dõi doanh thu của từng nhóm qua các năm. Ví dụ giả định, nhóm khách bắt đầu năm 2020 có doanh thu 40 tỷ đồng năm đầu, 34 tỷ năm thứ hai, 29 tỷ năm thứ ba. Tỷ lệ giữ lại doanh thu năm thứ hai là 85%, năm thứ ba so với năm thứ hai khoảng 85%. Làm tương tự cho các nhóm khác, bạn có một bảng cho thấy tỷ lệ giữ lại có ổn định theo tuổi quan hệ hay không.

Cần phân biệt rời bỏ theo số khách và rời bỏ theo doanh thu. Nhiều doanh nghiệp mất nhiều khách nhỏ nhưng giữ được khách lớn, nên tỷ lệ rời bỏ theo doanh thu thấp hơn theo số khách. Định giá dùng tỷ lệ theo doanh thu, vì tiền mới là thứ được chiết khấu. Ngược lại, một doanh nghiệp phụ thuộc vào vài khách lớn có rủi ro tập trung: mất một khách có thể làm mất một phần năm doanh thu. Trường hợp này nên mô hình riêng các khách lớn với xác suất gia hạn cụ thể, thay vì áp một tỷ lệ trung bình.

Một phát hiện lặp lại trong dữ liệu thực tế là tỷ lệ rời bỏ thường cao ở những năm đầu và giảm dần khi quan hệ đã lâu năm: khách nào còn ở lại sau ba năm thường ở lại lâu. Áp một tỷ lệ cố định cho mọi năm có thể đánh giá thấp giá trị của nhóm khách lâu năm. Thẩm định viên xử lý bằng cách ước lượng đường sống sót theo tuổi quan hệ, đôi khi dùng các dạng phân phối như Weibull, rồi áp cho cơ cấu tuổi của khách hiện tại. Khi dữ liệu dưới ba năm, một tỷ lệ cố định thận trọng kèm phân tích độ nhạy là lựa chọn trung thực hơn mô hình phức tạp trên dữ liệu mỏng.

Từ tỷ lệ rời bỏ đến giá trị: ví dụ giả định

Một công ty dịch vụ vệ sinh công nghiệp ở Đồng Nai có 120 khách doanh nghiệp, doanh thu năm tới từ nhóm này dự kiến 60 tỷ đồng. Phân tích năm năm cho thấy tỷ lệ giữ lại doanh thu khoảng 88% mỗi năm sau khi tính tăng giá. Biên lợi nhuận hoạt động trước thuế, sau khi loại chi phí tìm khách mới, là 12%; thuế giả định 20%. Phí đóng góp cho vốn lưu động, thiết bị, đội ngũ và tên thương mại tổng cộng 4% doanh thu.

Năm đầu: lợi nhuận hoạt động 7,2 tỷ, sau thuế 5,76 tỷ, trừ phí đóng góp 2,4 tỷ, thu nhập vượt mức còn 3,36 tỷ đồng. Năm thứ hai doanh thu từ nhóm khách cũ còn khoảng 52,8 tỷ, thu nhập vượt mức khoảng 2,96 tỷ. Cứ thế giảm dần. Chiết khấu với tỷ suất 17% trong khoảng mười lăm đến hai mươi năm, giá trị quan hệ khách hàng vào khoảng 12 tỷ đồng (ví dụ giả định, làm tròn).

Cần để ý tuổi thọ bình quân ngầm định. Với tỷ lệ giữ lại 88%, mỗi đồng doanh thu có tuổi thọ kỳ vọng khoảng tám năm, nhưng phần lớn giá trị tập trung trong năm năm đầu vì chiết khấu và suy giảm cùng tác động. Đây cũng là căn cứ chọn thời gian phân bổ kế toán cho tài sản sau khi ghi nhận: thời gian phân bổ nên phản ánh khoảng thời gian tạo ra phần lớn lợi ích, không nhất thiết đến khi đồng doanh thu cuối cùng biến mất.

Nếu tỷ lệ giữ lại chỉ là 80%, giá trị giảm còn khoảng 9 tỷ đồng. Nếu công ty mất một khách lớn chiếm 15% doanh thu ngay sau thương vụ, cả mô hình phải chạy lại. Vì vậy thẩm định viên hỏi rất kỹ về hợp đồng với khách lớn: thời hạn, điều khoản chấm dứt, điều khoản thay đổi chủ sở hữu.

Định giá danh sách khách hàng thuần tuý và phương pháp có và không có

Khi chỉ có danh sách khách hàng mà không có quan hệ thương mại đang chạy, chẳng hạn dữ liệu khách hàng tiềm năng hay danh sách thành viên đã ngừng mua, cách tiếp cận chi phí thường hợp lý nhất. Câu hỏi là: để xây lại một danh sách có chất lượng tương đương, doanh nghiệp phải tốn bao nhiêu cho tiếp thị, nhân sự thu thập, xác minh và làm sạch? Kết quả trừ đi phần lỗi thời: thông tin liên hệ cũ, khách đã chuyển đi, khách không còn nhu cầu. Danh sách khách doanh nghiệp mất giá nhanh vì nhân sự đầu mối thay đổi liên tục.

Một cách khác là phương pháp có và không có: so sánh dòng tiền của doanh nghiệp trong hai kịch bản, có quan hệ khách hàng sẵn và phải xây lại từ đầu. Trong kịch bản không có, doanh thu tăng dần trong vài năm đến mức hiện tại, kèm chi phí xây dựng. Hiệu số hiện giá giữa hai kịch bản là giá trị của tài sản. Phương pháp này hay được dùng khi quan hệ khách hàng không phải tài sản chính, để tránh xung đột với MPEEM áp cho tài sản khác, và cũng là cách tự nhiên để định giá cam kết không cạnh tranh.

Trong cả hai cách, một câu hỏi phải được trả lời trước: doanh nghiệp có quyền hợp pháp chuyển giao và sử dụng danh sách đó không. Nếu không, giá trị chuyển giao của danh sách có thể bằng không bất kể chi phí tái tạo bao nhiêu.

Dữ liệu cá nhân và danh mục hồ sơ cần chuẩn bị

Danh sách khách hàng cá nhân chứa dữ liệu cá nhân, chịu điều chỉnh của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân hiện hành ở Việt Nam. Việc mua bán dữ liệu cá nhân trái phép bị cấm, và việc chuyển dữ liệu sang chủ thể khác cần căn cứ pháp lý như sự đồng ý của chủ thể dữ liệu. Vì vậy giá trị của danh sách khách hàng cá nhân phụ thuộc trước hết vào việc dữ liệu được thu thập hợp pháp và có thể tiếp tục sử dụng sau giao dịch. Nên hỏi luật sư trước khi đưa danh sách vào giao dịch. Song song, để thẩm định nhanh và chính xác, doanh nghiệp nên chuẩn bị:

  • Dữ liệu doanh thu theo từng khách hàng, theo tháng hoặc quý, ít nhất ba đến năm năm, có mã khách thống nhất qua các năm.
  • Ngày bắt đầu quan hệ của từng khách để lập nhóm theo năm.
  • Danh sách khách lớn chiếm phần đáng kể doanh thu, kèm hợp đồng, thời hạn, điều khoản chấm dứt và thay đổi chủ sở hữu.
  • Cơ cấu chi phí bán hàng tách được phần phục vụ khách hiện có và phần tìm khách mới.
  • Chính sách giá và lịch sử tăng giá để tách tăng trưởng giá khỏi tăng trưởng lượng.
  • Căn cứ thu thập dữ liệu cá nhân: điều khoản đồng ý, chính sách bảo mật, mục đích sử dụng đã thông báo.
  • Đơn hàng tồn tại ngày định giá, tách riêng để không đếm trùng.

Doanh nghiệp càng có dữ liệu sạch theo khách hàng, tỷ lệ rời bỏ càng ước lượng chắc và báo cáo càng ít phải dùng giả định thận trọng. Dữ liệu tốt thường làm giá trị tăng chỉ vì giảm được phần chiết khấu cho sự không chắc chắn.

Câu hỏi thường gặp

Quan hệ khách hàng có phải là tài sản nếu không có hợp đồng không?

Có. Theo IFRS 3, quan hệ khách hàng không hợp đồng vẫn có thể được nhận diện nếu có thể tách rời, chẳng hạn khi có giao dịch trao đổi các quan hệ tương tự. Trong thực hành, khách mua lặp lại có thói quen ổn định thường được nhận diện và định giá dựa trên tỷ lệ rời bỏ lịch sử.

Tỷ lệ rời bỏ của ngành có dùng thay cho dữ liệu doanh nghiệp được không?

Chỉ nên dùng làm tham chiếu khi doanh nghiệp không có dữ liệu. Tỷ lệ rời bỏ phụ thuộc mạnh vào sản phẩm, khách hàng mục tiêu, chất lượng dịch vụ và chi phí chuyển đổi. Hai doanh nghiệp cùng ngành có thể chênh nhau rất nhiều. Dữ liệu nội bộ, dù chỉ ba năm, vẫn tốt hơn số trung bình ngành.

Một khách hàng chiếm phần lớn doanh thu thì xử lý thế nào?

Nên mô hình riêng khách hàng đó: thời hạn hợp đồng, xác suất gia hạn, điều khoản chấm dứt khi đổi chủ. Rủi ro tập trung có thể phản ánh bằng kịch bản xác suất hoặc phần bù rủi ro riêng. Áp tỷ lệ rời bỏ trung bình cho khách lớn che mất rủi ro lớn nhất của tài sản.

Giá trị quan hệ khách hàng được phân bổ trong bao nhiêu năm?

Thời gian phân bổ kế toán dựa trên khoảng thời gian tài sản dự kiến mang lại lợi ích, thường suy ra từ đường suy giảm doanh thu và hiện giá tích luỹ. Cần thống nhất với giả định trong mô hình định giá và với quy định kế toán, thuế hiện hành áp dụng cho doanh nghiệp.

Danh sách email khách hàng có bán được không?

Danh sách chứa dữ liệu cá nhân không được mua bán trái phép theo pháp luật bảo vệ dữ liệu cá nhân. Chuyển giao trong khuôn khổ mua bán doanh nghiệp cũng cần căn cứ pháp lý và tôn trọng quyền của chủ thể dữ liệu. Giá trị thực tế của danh sách vì thế phụ thuộc trước hết vào tính hợp pháp của việc thu thập và sử dụng.

Quan hệ khách hàng của nền tảng thuê bao khác gì doanh nghiệp phân phối?

Nền tảng thuê bao có dữ liệu rời bỏ rất chi tiết theo tháng và thường có doanh thu mở rộng từ khách cũ, khiến tỷ lệ giữ lại doanh thu ròng có thể vượt 100%. Khi đó phải tách phần mở rộng nhờ quan hệ sẵn có với phần nhờ sản phẩm mới, và cẩn thận với việc giả định mở rộng kéo dài.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.