Góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ là việc chủ sở hữu chuyển quyền đối với sáng chế, phần mềm, quyền tác giả, giống cây trồng hay các đối tượng sở hữu trí tuệ khác vào công ty để đổi lấy phần vốn góp. Luật Doanh nghiệp 2020 cho phép quyền sở hữu trí tuệ là tài sản góp vốn, với điều kiện người góp là chủ sở hữu hợp pháp. Tài sản phải được định giá thành đồng Việt Nam, bởi các thành viên, cổ đông sáng lập theo nguyên tắc nhất trí hoặc bởi tổ chức thẩm định giá.
Điểm hay bị xem nhẹ là trách nhiệm: nếu tài sản được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp, người góp và những người tham gia định giá phải liên đới góp thêm phần chênh lệch và chịu trách nhiệm về thiệt hại phát sinh, theo quy định của luật doanh nghiệp. Con số góp vốn vì thế không phải con số "đẹp" mà là con số các bên phải bảo vệ được.
Tài sản trí tuệ nào góp vốn được và ai được góp
Theo Luật Doanh nghiệp 2020, quyền sở hữu trí tuệ dùng để góp vốn gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng. Chỉ cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền nói trên mới có quyền dùng chúng để góp vốn. Điều kiện này nghe hiển nhiên nhưng là chỗ vấp nhiều nhất: một nhà khoa học tạo ra sáng chế trong khuôn khổ công việc tại viện có thể không phải chủ sở hữu; một nhà sáng lập tự viết phần mềm trước khi thành lập công ty là chủ sở hữu, nhưng phần do cộng sự cùng viết lại có thể là đồng sở hữu.
Cần phân biệt quyền tài sản và quyền nhân thân. Với quyền tác giả, quyền nhân thân như quyền đứng tên tác giả không chuyển giao được; thứ góp vốn là quyền tài sản: sao chép, phân phối, làm tác phẩm phái sinh. Với sáng chế, tác giả sáng chế vẫn được ghi tên, nhưng quyền sở hữu bằng có thể chuyển cho công ty.
Một số đối tượng có vị trí đặc biệt. Đơn sáng chế chưa cấp bằng là quyền nộp đơn và quyền ưu tiên, có thể chuyển giao nhưng giá trị phụ thuộc xác suất được cấp. Bí mật kinh doanh và bí quyết thuộc quyền sở hữu công nghiệp, nhưng không có văn bằng nên việc chứng minh tồn tại, phạm vi và quyền sở hữu cần hồ sơ nội bộ chặt chẽ. Tên thương mại không thể chuyển nhượng tách rời cơ sở kinh doanh, nên thường không phải đối tượng góp vốn độc lập.
Góp quyền sở hữu hay góp quyền sử dụng
Hai cách góp này dẫn tới hai đối tượng định giá khác nhau và hai hệ quả pháp lý khác nhau. Nhầm lẫn giữa chúng là nguồn gốc của nhiều tranh chấp giữa các nhà sáng lập.
| Tiêu chí | Góp quyền sở hữu (chuyển nhượng) | Góp quyền sử dụng (li-xăng) |
|---|---|---|
| Ai sở hữu sau góp | Công ty | Người góp vẫn là chủ sở hữu |
| Đối tượng định giá | Toàn bộ giá trị quyền trong thời hạn bảo hộ còn lại | Giá trị quyền sử dụng trong phạm vi, thời hạn, lãnh thổ được li-xăng |
| Thủ tục với quyền sở hữu công nghiệp | Đăng ký hợp đồng chuyển nhượng tại cơ quan sở hữu trí tuệ để ghi nhận chủ sở hữu mới | Hợp đồng li-xăng; đăng ký theo quy định hiện hành |
| Khi người góp rời công ty | Tài sản ở lại công ty | Phụ thuộc điều khoản li-xăng; có thể mất quyền dùng |
| Rủi ro chính | Người góp mất quyền nếu công ty giải thể, phá sản | Công ty phụ thuộc vào người góp; nhà đầu tư sau thường không chấp nhận |
| Giá trị tương đối | Cao hơn | Thấp hơn, càng thấp nếu không độc quyền hoặc có thời hạn ngắn |
Nhà đầu tư vòng sau gần như luôn yêu cầu tài sản trí tuệ cốt lõi thuộc sở hữu của công ty, không chỉ là quyền sử dụng. Nếu nhà sáng lập chỉ góp li-xăng, khi gọi vốn họ thường bị yêu cầu chuyển nhượng hẳn, và lúc đó câu hỏi định giá lại được mở ra.
Một lựa chọn trung gian là góp li-xăng độc quyền, toàn bộ lĩnh vực, thời hạn bằng thời hạn bảo hộ, kèm quyền mua lại. Cấu trúc này phức tạp và cần luật sư soạn kỹ.
Ai định giá: thoả thuận nhất trí hay tổ chức thẩm định giá
Luật Doanh nghiệp 2020 cho phép hai con đường. Khi thành lập doanh nghiệp, tài sản góp vốn được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí, hoặc do một tổ chức thẩm định giá định giá; nếu dùng tổ chức thẩm định giá thì kết quả phải được đa số thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận theo quy định. Khi góp vốn trong quá trình hoạt động, việc định giá do chủ sở hữu, hội đồng thành viên hoặc hội đồng quản trị và người góp vốn thoả thuận, hoặc thuê tổ chức thẩm định giá. Chi tiết tỷ lệ chấp thuận và thẩm quyền cần đối chiếu điều luật hiện hành.
Với tài sản trí tuệ, tự định giá theo thoả thuận nhanh và rẻ nhưng rủi ro cao hơn: không có ai độc lập giải thích vì sao con số hợp lý, và khi có tranh chấp, những người đã ký biên bản định giá cùng chịu trách nhiệm. Thuê tổ chức thẩm định giá tốn chi phí và thời gian, nhưng tạo ra một hồ sơ có lập luận, phương pháp và giả định, đặc biệt hữu ích khi có cổ đông là tổ chức, khi công ty có kế hoạch gọi vốn, hoặc khi giá trị tài sản trí tuệ chiếm phần lớn vốn điều lệ.
Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp khoa học công nghệ chọn cách dung hoà: các bên thoả thuận một mức hợp lý dựa trên báo cáo định giá độc lập, ghi rõ trong biên bản phương pháp và giả định chính. Điều đó không loại trừ trách nhiệm, nhưng cho thấy các bên đã hành động thận trọng.
Cách định giá phù hợp mục đích góp vốn
Câu hỏi định giá khi góp vốn khác câu hỏi khi bán. Khi bán, ta hỏi người mua trên thị trường trả bao nhiêu. Khi góp vốn, ta hỏi tài sản này mang lại bao nhiêu giá trị cho chính công ty nhận góp, so với phần vốn bằng tiền các bên khác góp. Vì vậy cách tiếp cận thu nhập dựa trên kế hoạch kinh doanh của công ty thường là trục chính, nhưng phải tính đầy đủ rằng công ty cần thêm vốn tiền mặt, nhân lực, nhà xưởng mới khai thác được tài sản. Toàn bộ giá trị của doanh nghiệp tương lai không phải là giá trị của tài sản trí tuệ.
Một sai lầm phổ biến là định giá tài sản trí tuệ bằng hiện giá toàn bộ lợi nhuận dự kiến của công ty, rồi cộng thêm tiền mặt của nhà đầu tư. Cách làm đó đếm trùng: lợi nhuận dự kiến chỉ đạt được nhờ chính khoản tiền mặt kia. Cách đúng là chỉ gán cho tài sản trí tuệ phần lợi nhuận vượt mức sau khi trả lợi suất hợp lý cho vốn tiền mặt và các tài sản khác, hoặc dùng mức phí bản quyền hợp lý mà công ty lẽ ra phải trả nếu thuê công nghệ của bên ngoài.
Với công nghệ ở giai đoạn sớm, kết quả nên chiết khấu mạnh cho rủi ro chưa thương mại hoá, hoặc mô hình theo giai đoạn với xác suất thành công. Cách tiếp cận chi phí, tức chi phí để tự phát triển công nghệ tương đương, có thể dùng làm kiểm tra: nếu giá góp vốn cao hơn nhiều lần chi phí tự phát triển và không có độc quyền pháp lý mạnh, các bên góp tiền mặt có lý do để phản đối.
Quy trình góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ
Trình tự dưới đây là khung tham khảo; thủ tục cụ thể cần kiểm theo luật doanh nghiệp, luật sở hữu trí tuệ, luật chuyển giao công nghệ hiện hành và hỏi luật sư.
- Rà soát quyền: xác nhận chủ sở hữu, tình trạng văn bằng, phí duy trì, đồng sở hữu, li-xăng đã cấp, tranh chấp, nghĩa vụ với tổ chức tài trợ nghiên cứu.
- Xác định đối tượng góp: quyền sở hữu hay quyền sử dụng; phạm vi, lãnh thổ, thời hạn; có kèm bí quyết, tài liệu, hỗ trợ kỹ thuật không.
- Định giá: theo thoả thuận nhất trí hoặc thuê tổ chức thẩm định giá; lập biên bản ghi phương pháp và giả định chính.
- Ghi nhận trong điều lệ và sổ đăng ký thành viên, cổ đông: giá trị góp, tỷ lệ sở hữu, thời hạn góp.
- Chuyển quyền: ký hợp đồng chuyển nhượng hoặc li-xăng với công ty; với quyền sở hữu công nghiệp, đăng ký tại cơ quan sở hữu trí tuệ để thay đổi chủ sở hữu trên văn bằng.
- Bàn giao kỹ thuật: tài liệu, mã nguồn, quy trình, đào tạo; biên bản bàn giao là bằng chứng hoàn thành nghĩa vụ góp vốn.
- Hạch toán và thuế: ghi nhận tài sản cố định vô hình theo giá trị góp; xác định nghĩa vụ thuế phát sinh khi chuyển nhượng tài sản để góp vốn theo quy định hiện hành.
Bước năm thường bị trì hoãn vì nghĩ rằng ký biên bản góp vốn là xong. Nếu văn bằng vẫn đứng tên cá nhân, công ty chưa thật sự sở hữu tài sản, và người góp chưa hoàn thành nghĩa vụ góp vốn theo luật.
Rủi ro thường gặp và cách phòng ngừa
Định giá cao khống để làm đẹp vốn điều lệ. Vốn điều lệ cao không làm công ty mạnh hơn, nhưng tạo ra trách nhiệm liên đới cho người định giá nếu bị phát hiện cao hơn giá trị thực tế. Đối tác, ngân hàng và nhà đầu tư chuyên nghiệp thường điều chỉnh lại khi thẩm định, nên con số cao khống không đem lại lợi ích thật.
Văn bằng mất hiệu lực sau khi góp. Bằng sáng chế có thể bị huỷ bỏ, quên nộp phí duy trì. Biên bản góp vốn nên quy định trách nhiệm duy trì và hệ quả nếu quyền bị chấm dứt vì lỗi trước thời điểm góp.
Phụ thuộc vào người sáng tạo. Nhiều công nghệ chỉ khai thác được khi người tạo ra nó tiếp tục làm việc. Nên gắn phần vốn góp với cam kết làm việc hoặc cơ chế mua lại cổ phần nếu người đó rời đi sớm.
Tài sản hình thành từ ngân sách nhà nước. Kết quả nghiên cứu dùng ngân sách có thể thuộc nhà nước hoặc được giao cho tổ chức chủ trì theo pháp luật khoa học công nghệ. Góp vốn khi chưa làm rõ quyền có thể bị vô hiệu.
Nghĩa vụ thuế khi chuyển nhượng để góp vốn. Việc chuyển quyền sở hữu trí tuệ vào công ty có thể làm phát sinh thu nhập chịu thuế cho người góp. Cách xác định và thời điểm nộp thay đổi theo văn bản hiện hành; nên hỏi chuyên gia thuế trước khi chốt giá trị góp.
Câu hỏi thường gặp
Có thể góp vốn bằng đơn sáng chế đang chờ cấp bằng không?
Quyền đối với đơn về nguyên tắc có thể chuyển giao; dùng nó làm tài sản góp vốn nên được luật sư xác nhận theo văn bản hiện hành. Nếu được chấp nhận, giá trị phải phản ánh xác suất được cấp bằng và khả năng phạm vi bị thu hẹp. Biên bản nên quy định xử lý khi đơn bị từ chối, chẳng hạn điều chỉnh phần vốn góp hoặc nghĩa vụ góp bổ sung.
Thành viên góp tiền mặt có thể phản đối mức định giá tài sản trí tuệ không?
Khi thành lập, nếu định giá theo thoả thuận thì cần sự nhất trí của các thành viên, cổ đông sáng lập, nên bất kỳ ai không đồng ý đều có thể chặn. Nếu thuê tổ chức thẩm định giá, kết quả vẫn phải được chấp thuận theo tỷ lệ luật định. Đây là lý do nên thống nhất phương pháp trước khi làm.
Giá trị góp vốn có phải là giá trị ghi sổ của tài sản vô hình không?
Thông thường tài sản vô hình nhận góp được ghi nhận theo giá trị được các bên chấp thuận hoặc theo kết quả định giá. Sau đó tài sản được phân bổ dần theo thời gian sử dụng hữu ích. Nếu giá trị góp cao khống, chi phí phân bổ hằng năm cũng cao, ảnh hưởng lợi nhuận nhiều năm.
Góp vốn bằng phần mềm tự viết có cần đăng ký quyền tác giả trước không?
Quyền tác giả phát sinh khi tác phẩm được tạo ra, không bắt buộc đăng ký. Nhưng giấy chứng nhận đăng ký là bằng chứng thuận lợi về chủ sở hữu, giúp hồ sơ góp vốn chắc chắn hơn và giảm tranh chấp khi có nhiều người cùng viết mã.
Nếu công ty giải thể thì tài sản trí tuệ đã góp xử lý thế nào?
Nếu đã góp quyền sở hữu, tài sản thuộc công ty và được xử lý như tài sản khác khi thanh lý, có thể được bán để trả nợ. Người góp không tự động lấy lại. Nếu chỉ góp quyền sử dụng, li-xăng chấm dứt theo điều khoản hợp đồng và quyền quay về chủ sở hữu.
Có cần chứng thư thẩm định giá khi góp vốn bằng quyền sở hữu trí tuệ không?
Không phải lúc nào cũng bắt buộc, vì luật cho phép các bên tự định giá theo thoả thuận. Tuy vậy, với doanh nghiệp có vốn nhà nước, có nhà đầu tư tổ chức, hoặc tài sản trí tuệ chiếm phần lớn vốn, chứng thư của tổ chức thẩm định giá độc lập giúp giảm rủi ro trách nhiệm và tranh chấp.