TrungTamDinhGia.comTrung Tâm Định Giá
Định giá góp vốn và bảo hiểm

Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm khác nhau thế nào: cách xác định đúng

Giá trị bảo hiểm là giá trị thật của tài sản, số tiền bảo hiểm là mức bạn chọn mua. Cách xác định cho nhà xưởng, máy móc, hàng tồn kho và vì sao không bảo hiểm phần đất.

Wide shot of a modern Vietnamese factory building at dusk with warm interior lights glowing through tall windows, an empty forecourt, deep blue sky, symmetrical composition

Giá trị bảo hiểm là giá trị thực của tài sản được bảo hiểm, đo theo cơ sở mà hợp đồng chọn (giá trị thực tế hoặc giá trị thay thế mới); số tiền bảo hiểm là mức tiền người mua bảo hiểm yêu cầu và ghi trong hợp đồng, là giới hạn tối đa doanh nghiệp bảo hiểm trả. Lý tưởng nhất, hai con số này bằng nhau.

Khi số tiền bảo hiểm thấp hơn giá trị bảo hiểm, bạn bị “bảo hiểm dưới giá trị” và khoản bồi thường cho tổn thất bộ phận có thể bị giảm theo tỷ lệ. Khi số tiền bảo hiểm cao hơn, phần vượt không có giá trị, bạn chỉ trả phí cho thứ không bao giờ được bồi thường. Xác định đúng giá trị bảo hiểm vì thế là một bài toán định giá, không phải chuyện chọn con số tròn trong tờ khai.

Bốn con số trong một đơn bảo hiểm tài sản

Người mua bảo hiểm thường chỉ nhìn phí. Nhưng một đơn bảo hiểm tài sản có ít nhất bốn con số liên quan đến giá trị, mỗi con số có vai trò riêng khi tính bồi thường.

Con sốNghĩaAi xác địnhẢnh hưởng khi có tổn thất
Giá trị bảo hiểmGiá trị thực của tài sản theo cơ sở đã chọnNgười mua bảo hiểm khai, doanh nghiệp bảo hiểm có thể kiểm traLà mẫu số để so với số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểmMức tiền ghi trong hợp đồng cho từng hạng mụcNgười mua bảo hiểm yêu cầu, hai bên thoả thuậnTrần bồi thường; là tử số khi tính tỷ lệ
Giới hạn bồi thườngMức trần cho một số rủi ro hoặc một sự cố, có thể thấp hơn số tiền bảo hiểmGhi trong điều khoảnGiới hạn riêng, như với tiền mặt, hàng trong kho ngoài trời
Mức khấu trừPhần tổn thất người được bảo hiểm tự chịu mỗi vụThoả thuận, ảnh hưởng mức phíBị trừ khỏi số tiền bồi thường

Hiểu bốn con số này giúp bạn đọc thông báo bồi thường không bị bất ngờ. Một khoản bồi thường thấp hơn kỳ vọng thường đến từ một trong ba nguyên nhân: tỷ lệ dưới giá trị, giới hạn riêng, hoặc mức khấu trừ, chứ hiếm khi chỉ vì doanh nghiệp bảo hiểm “ép”.

Vì sao giá trị bảo hiểm là trần: nguyên tắc bồi thường

Bảo hiểm tài sản vận hành theo nguyên tắc bồi thường (indemnity): sau tổn thất, người được bảo hiểm được đưa về vị trí tài chính như trước khi tổn thất xảy ra, không hơn. Nếu được trả nhiều hơn giá trị thực, bảo hiểm trở thành cơ hội kiếm lời từ rủi ro, và động cơ phòng ngừa tổn thất suy giảm. Luật Kinh doanh bảo hiểm 2022 thể hiện nguyên tắc này qua các quy định về số tiền bảo hiểm không được vượt giá trị tài sản, về bảo hiểm dưới giá trị, trên giá trị và bảo hiểm trùng.

Nguyên tắc này phân biệt bảo hiểm tài sản với bảo hiểm nhân thọ. Tính mạng con người không có “giá trị bảo hiểm” đo được, nên một người có thể mua nhiều hợp đồng nhân thọ và nhận đủ từ tất cả. Với một nhà kho, không thể nhận tiền hai lần cho cùng một mét vuông bị cháy.

Hệ quả thực tế: con số ghi ở mục số tiền bảo hiểm không phải lời hứa doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trả đủ. Nó chỉ là trần. Số tiền thực trả được tính từ tổn thất thực, đo theo cơ sở giá trị của hợp đồng, sau khi xét tỷ lệ, giới hạn và khấu trừ.

Ba cơ sở xác định giá trị bảo hiểm

Giá trị thực tế (giá trị khấu hao). Chi phí thay thế tài sản bằng tài sản mới cùng loại, trừ phần hao mòn do tuổi và tình trạng, hoặc giá thị trường của tài sản cùng loại, cùng tình trạng. Đây là cơ sở mặc định trong nhiều đơn khi không có điều khoản bổ sung; khi có tổn thất, bạn nhận đủ tiền để có một tài sản “cũ tương đương”, phần chênh để mua mới phải tự bỏ.

Giá trị thay thế mới (khôi phục). Chi phí xây dựng lại hoặc mua mới tài sản cùng loại, cùng công năng, không trừ khấu hao. Thường cần điều khoản bổ sung và đi kèm điều kiện, như phải thực sự xây lại hoặc thay thế trong thời hạn nhất định. Số tiền bảo hiểm khi đó phải tính theo giá mới, cao hơn đáng kể so với giá trị sổ sách.

Giá trị thoả thuận. Hai bên chốt trước một giá trị cho tài sản khó định giá lại sau tổn thất, như tác phẩm nghệ thuật, đồ sưu tầm, có khi là tàu. Khi tổn thất toàn bộ, giá trị thoả thuận được dùng mà không định giá lại. Doanh nghiệp bảo hiểm thường đòi thẩm định giá hoặc giám định trước khi chấp nhận.

Chọn cơ sở nào là quyết định kinh doanh. Một nhà xưởng là trung tâm sản xuất cần được xây lại nhanh nên chọn giá trị thay thế mới; một kho cũ sắp di dời có thể chỉ cần giá trị thực tế. Cơ sở đã chọn quyết định luôn cách tính số tiền bảo hiểm.

Bảo hiểm không bảo hiểm phần đất: lỗi hay gặp nhất

Lỗi phổ biến nhất khi mua bảo hiểm cháy nổ cho nhà xưởng hay nhà ở là lấy giá trị nhà đất (giá mua, giá ngân hàng định giá, giá thị trường) làm số tiền bảo hiểm. Cháy không làm mất đất. Thứ cần bảo hiểm là công trình: kết cấu, mái, hệ thống điện nước, phòng cháy chữa cháy, hoàn thiện nội thất cố định. Giá trị bảo hiểm của công trình đo bằng chi phí xây dựng lại, không phải giá thị trường của bất động sản.

Ví dụ giả định: một nhà xưởng ở khu công nghiệp được ngân hàng định giá 40 tỷ đồng, trong đó quyền sử dụng đất chiếm phần lớn. Chi phí xây dựng lại nhà xưởng tương đương, gồm dọn dẹp hiện trường sau cháy và phí thiết kế, khoảng 15 tỷ. Nếu mua số tiền bảo hiểm 40 tỷ cho công trình, khoảng 25 tỷ là trên giá trị: doanh nghiệp trả phí cho phần không bao giờ được bồi thường.

Chiều ngược lại cũng xảy ra: nhà xưởng xây cách đây mười lăm năm, sổ sách ghi giá trị còn lại rất thấp, chủ doanh nghiệp mua theo số đó. Khi cháy, chi phí xây lại theo giá vật liệu và nhân công hiện tại cao hơn nhiều, và nếu đơn bảo hiểm theo giá trị thay thế mới, mức bồi thường cho tổn thất bộ phận bị giảm theo tỷ lệ dưới giá trị.

Quy trình xác định số tiền bảo hiểm cho tài sản doanh nghiệp

Quy trình này dùng được cho đơn bảo hiểm cháy nổ, mọi rủi ro tài sản hay các đơn tương tự. Mỗi nhóm tài sản nên có số tiền bảo hiểm riêng, vì tỷ lệ dưới giá trị thường được xét theo từng hạng mục.

  1. Lập danh mục tài sản theo nhóm: công trình xây dựng, máy móc thiết bị, hàng tồn kho, đồ dùng văn phòng, tài sản của bên thứ ba do doanh nghiệp giữ hộ.
  2. Chọn cơ sở giá trị cho từng nhóm (thực tế hay thay thế mới) theo nhu cầu khôi phục hoạt động.
  3. Công trình: ước chi phí xây dựng lại theo diện tích sàn, kết cấu, đơn giá xây dựng hiện hành, cộng chi phí dọn dẹp hiện trường, thiết kế, giám sát và chi phí đáp ứng quy chuẩn mới nếu điều khoản có bảo hiểm phần này.
  4. Máy móc: dùng báo giá máy mới tương đương cộng vận chuyển, thuế nhập khẩu, lắp đặt; nếu theo giá trị thực tế thì trừ hao mòn có căn cứ.
  5. Hàng tồn kho: dùng giá gốc (chi phí mua hoặc sản xuất), xét mức tồn cao nhất trong năm hoặc chọn hình thức bảo hiểm theo khai báo nếu tồn kho biến động mạnh.
  6. Cộng chi phí liên quan mà đơn cho phép mua thêm: chi phí chữa cháy, chi phí kiến trúc sư, chi phí di dời tạm, nếu cần.
  7. Ghi lại cách tính và nguồn dữ liệu; rà soát lại mỗi năm hoặc khi đầu tư thêm, khi giá xây dựng, tỷ giá thay đổi đáng kể.

Khi ngân hàng yêu cầu bảo hiểm tài sản thế chấp

Tài sản thế chấp thường phải được bảo hiểm với người thụ hưởng là ngân hàng. Một thói quen sai là lấy số tiền bảo hiểm bằng dư nợ vay hoặc bằng giá trị thẩm định của ngân hàng. Dư nợ là con số của khoản vay, không phải giá trị tài sản; giá trị thẩm định cho mục đích bảo đảm thường gồm cả quyền sử dụng đất và có thể được lập theo giả định thận trọng.

Nếu dư nợ thấp hơn chi phí xây dựng lại, số tiền bảo hiểm theo dư nợ là dưới giá trị: khi tổn thất bộ phận, bồi thường bị giảm theo tỷ lệ, chủ tài sản vừa mất phần tài sản vừa phải tự bù để xây lại. Nếu dư nợ cao hơn, phần vượt là trên giá trị và vô ích. Đúng hơn là xác định số tiền bảo hiểm theo giá trị bảo hiểm của công trình, rồi điều khoản thụ hưởng sẽ phân chia tiền bồi thường giữa ngân hàng và chủ tài sản.

Bạn có quyền trao đổi với ngân hàng về cách tính này. Ngân hàng cần tài sản bảo đảm được khôi phục khi có tổn thất, nên một số tiền bảo hiểm đúng giá trị phục vụ cả hai bên tốt hơn một con số cho tròn với hợp đồng vay.

Danh mục kiểm tra trước khi ký đơn bảo hiểm tài sản

Dành mười lăm phút với danh mục này trước khi ký thường tiết kiệm được nhiều tranh cãi khi có tổn thất.

  • Số tiền bảo hiểm của công trình không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất.
  • Cơ sở giá trị (thực tế hay thay thế mới) được ghi rõ cho từng nhóm tài sản, và số tiền bảo hiểm tính theo đúng cơ sở đó.
  • Máy móc nhập khẩu được tính theo giá hiện hành và tỷ giá hiện tại, không theo hoá đơn cũ.
  • Hàng tồn kho tính theo mức cao điểm hoặc có cơ chế khai báo, không chỉ theo số dư cuối năm tài chính.
  • Tài sản mới đầu tư trong năm có điều khoản tự động bảo hiểm tạm thời hoặc đã được khai báo bổ sung.
  • Đã đọc các giới hạn bồi thường riêng và mức khấu trừ cho từng rủi ro.
  • Lưu hồ sơ cách tính số tiền bảo hiểm cùng hợp đồng, để khi giám định tổn thất có căn cứ đối chiếu.

Câu hỏi thường gặp

Số tiền bảo hiểm có thể thấp hơn giá trị tài sản không?

Được, đó là bảo hiểm dưới giá trị. Phí thấp hơn, nhưng khi có tổn thất bộ phận, số tiền bồi thường thường bị tính theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị tài sản. Nhiều doanh nghiệp không biết điều này cho đến khi nhận thông báo bồi thường.

Doanh nghiệp bảo hiểm có kiểm tra giá trị tài sản khi bán đơn không?

Với tài sản lớn, doanh nghiệp bảo hiểm thường khảo sát rủi ro và có thể nhận xét về giá trị. Nhưng trách nhiệm khai báo trung thực thuộc người mua bảo hiểm, và việc doanh nghiệp bảo hiểm nhận phí không có nghĩa họ đã xác nhận giá trị. Nhiều tranh chấp chỉ phát hiện sai lệch khi giám định tổn thất.

Có nên thuê thẩm định giá để xác định số tiền bảo hiểm?

Với tài sản lớn hoặc phức tạp như nhà máy, dây chuyền nhập khẩu, kho hàng giá trị cao, thuê định giá cho mục đích bảo hiểm là đáng. Cần nói rõ mục đích là bảo hiểm và cơ sở giá trị cần đo (chi phí xây dựng lại, thay thế mới), vì kết quả khác với định giá để vay hay mua bán.

Giá trị bảo hiểm có thay đổi trong thời hạn hợp đồng không?

Giá trị thực của tài sản thay đổi theo hao mòn, giá vật liệu, tỷ giá, mức tồn kho. Hợp đồng ghi số tiền bảo hiểm cố định trừ khi có điều khoản điều chỉnh. Vì vậy nên rà soát khi tái tục, và với tài sản biến động mạnh, dùng cơ chế khai báo hoặc điều khoản tự động điều chỉnh.

Tài sản đi thuê có cần mua bảo hiểm không, ai mua?

Phụ thuộc hợp đồng thuê quy định ai chịu rủi ro mất mát. Thường chủ sở hữu bảo hiểm công trình, còn bên thuê bảo hiểm máy móc, hàng hoá và phần cải tạo của mình. Hai bên nên đối chiếu để tránh cả hai cùng mua một tài sản hoặc cả hai đều bỏ sót.

Thuế giá trị gia tăng có tính vào giá trị bảo hiểm không?

Phụ thuộc người được bảo hiểm có được khấu trừ thuế đầu vào hay không. Doanh nghiệp được khấu trừ thường bảo hiểm theo giá chưa thuế, vì khoản thuế khi mua lại được hoàn qua khấu trừ. Người không được khấu trừ có thể cần tính cả thuế. Nên thống nhất với doanh nghiệp bảo hiểm khi giao kết.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.