Máy móc góp vốn vào một doanh nghiệp sẽ tiếp tục vận hành thường được định giá theo giá trị đang sử dụng: chi phí thay thế bằng một máy tương đương, cộng chi phí vận chuyển và lắp đặt, rồi trừ hao mòn hữu hình, lạc hậu chức năng và lạc hậu kinh tế. Giá trị thanh lý, tức giá bán lại sau khi tháo dỡ, là cận dưới để kiểm tra, không phải con số ghi vào vốn.
Hàng hoá, nguyên vật liệu góp vốn thì khác: chúng sẽ được bán hoặc tiêu hao, nên mốc hợp lý là giá trị thuần có thể thực hiện được, tức giá bán ước tính trừ chi phí hoàn thiện và chi phí bán. Lẫn lộn hai mốc này là nguồn gốc của phần lớn tranh cãi về tài sản góp hiện vật.
Tiền đề giá trị: vì sao cùng một chiếc máy có hai giá
Trong thẩm định giá có khái niệm tiền đề giá trị (premise of value): giả định về cách tài sản sẽ được sử dụng sau ngày định giá. Một máy ép nhựa đang nối với khuôn, hệ thống làm mát, nguồn điện và dây chuyền phía sau có giá trị khác hẳn chính chiếc máy đó khi đã tháo ra, nằm ở bãi chờ bán. Ở trạng thái thứ nhất, doanh nghiệp tránh được chi phí mua, vận chuyển, lắp đặt, chạy thử; ở trạng thái thứ hai, người mua phải tự gánh hết những chi phí đó và còn đòi chiết khấu rủi ro.
Khi góp vốn, tiền đề phù hợp phụ thuộc vào kế hoạch thật. Nếu máy được chuyển nguyên trạng vào nhà xưởng của công ty mới và sẽ chạy ngay, giá trị đang sử dụng (có lắp đặt) là hợp lý. Nếu máy phải tháo khỏi xưởng cũ, chở đi xa, lắp lại, thì chi phí tháo dỡ, vận chuyển, lắp lại phải được tính vào phía công ty, và giá trị góp nên là giá trị tại chỗ trước khi di dời.
Nếu công ty chưa có kế hoạch dùng máy, hoặc máy dư công suất, thì giá trị đang sử dụng không đứng vững. Ghi một chiếc máy “đang dùng được” trong khi công ty không có đơn hàng cho nó là cách phổ biến để thổi phồng vốn góp.
Ba loại hao mòn phải trừ khỏi chi phí thay thế
Cách tiếp cận chi phí đi từ chi phí thay thế mới (một máy hiện đại có công năng tương đương) hoặc chi phí tái tạo (máy y hệt), rồi trừ hao mòn. Ba loại hao mòn có nguyên nhân và cách đo khác nhau.
| Loại hao mòn | Nguyên nhân | Cách ước tính | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| Hao mòn hữu hình | Sử dụng, thời gian, môi trường làm việc | Tỷ lệ tuổi hiệu quả trên tuổi đời kinh tế; điều chỉnh theo kiểm tra tình trạng và lịch sử bảo dưỡng | Trục chính rơ, bơm thuỷ lực rò, khung gỉ |
| Lạc hậu chức năng | Thiết kế cũ kém hơn công nghệ hiện hành | Vốn hoá phần chi phí vận hành thừa so với máy mới, hoặc chi phí khắc phục | Tốn điện hơn, cần hai người vận hành thay vì một, không kết nối được hệ thống quản lý |
| Lạc hậu kinh tế | Yếu tố bên ngoài tài sản | So công suất sử dụng được với công suất thiết kế; chiết khấu thu nhập thiếu hụt | Ngành suy giảm đơn hàng, quy chuẩn khí thải mới, nguyên liệu khan hiếm |
Sai lầm thường gặp là chỉ trừ hao mòn hữu hình theo tuổi, rồi coi đó là xong. Một máy giữ gìn tốt nhưng tốn điện gấp đôi máy đời mới vẫn mất giá trị, vì người mua độc lập sẽ so tổng chi phí sở hữu chứ không chỉ nhìn tình trạng vỏ máy.
Các bước định giá máy móc, thiết bị đem góp
Quy trình rút gọn, áp dụng được cho máy đơn chiếc lẫn cả dây chuyền. Với dây chuyền, nên định giá từng cụm chính rồi cộng lại, đồng thời kiểm tra tổng thể bằng công suất.
- Lập danh mục: tên, hãng, model, số seri, năm sản xuất, năm đưa vào sử dụng, công suất, phụ kiện đi kèm, phần mềm điều khiển và bản quyền (nếu có).
- Kiểm tra pháp lý và nguồn gốc: hoá đơn, tờ khai hải quan, chứng từ thanh toán; máy nhập khẩu đã qua sử dụng phải phù hợp quy định nhập khẩu tại thời điểm nhập.
- Khảo sát tình trạng: chạy thử có tải nếu được, đo độ chính xác, xem nhật ký bảo dưỡng, sửa chữa lớn, các bộ phận đã thay; chụp ảnh, quay video có mốc thời gian.
- Xác định chi phí thay thế mới: báo giá máy mới tương đương từ hai đến ba nhà cung cấp, cộng vận chuyển, thuế nhập khẩu (nếu có), lắp đặt và chạy thử.
- Trừ hao mòn hữu hình, lạc hậu chức năng, lạc hậu kinh tế, mỗi khoản có lập luận và dữ liệu.
- Kiểm chéo bằng thị trường thứ cấp: giao dịch máy cùng loại, cùng đời; điều chỉnh khác biệt về tình trạng, cấu hình, vị trí.
- Đối chiếu với giá trị thanh lý ước tính để biết biên an toàn; chốt giá trị, ghi tiền đề giá trị và ngày hiệu lực.
Dây chuyền: tổng các bộ phận không bằng giá trị cả hệ thống
Khi góp cả một dây chuyền, có hai cách tính dễ cho hai kết quả khác nhau. Cách thứ nhất định giá từng máy riêng lẻ theo thị trường thứ cấp rồi cộng lại; cách thứ hai coi dây chuyền là một đơn vị tạo ra công suất nhất định và định giá theo chi phí dựng một dây chuyền tương đương. Cách thứ nhất thường thấp hơn, vì thị trường máy cũ trả giá cho từng chiếc tháo rời, không trả cho phần tích hợp, cân chỉnh, băng tải, tủ điện, đường ống kết nối.
Nếu dây chuyền tiếp tục chạy nguyên trạng ở công ty nhận góp, phần tích hợp có giá trị thật và có thể được tính, với điều kiện chứng minh được công suất thực tế, tỷ lệ sản phẩm đạt và khả năng vận hành ổn định. Ngược lại, nếu công ty chỉ cần một vài máy trong dây chuyền, phần còn lại nên được định giá theo giá trị thanh lý, và chi phí nối lại các máy được giữ lại phải được trừ.
Một điểm kiểm tra đơn giản: lấy công suất thực tế của dây chuyền nhân với biên đóng góp kỳ vọng của sản phẩm, xem dòng tiền đó có đủ biện minh cho giá trị góp hay không. Nếu một dây chuyền được ghi vài chục tỷ nhưng chỉ tạo ra biên đóng góp vài trăm triệu mỗi năm, có lạc hậu kinh tế chưa được trừ.
Hàng hoá, nguyên vật liệu góp vốn: những điều không giống máy móc
Mốc là giá trị thuần có thể thực hiện được. Chuẩn mực kế toán Việt Nam về hàng tồn kho dùng giá thấp hơn giữa giá gốc và giá trị thuần có thể thực hiện được. Khi góp vốn, nên dùng tinh thần tương tự: giá bán ước tính trong điều kiện bình thường, trừ chi phí hoàn thiện, đóng gói, vận chuyển, bán hàng.
Kiểm kê cùng ngày định giá. Số lượng trên sổ của người góp không phải số lượng thật. Kiểm kê phải có biên bản, đếm theo lô, ghi hạn dùng, tình trạng bao bì, điều kiện bảo quản. Hàng hoá thay đổi theo ngày, nên định giá cũ vài tháng gần như vô nghĩa.
Phân nhóm theo tốc độ luân chuyển. Hàng bán chạy có thể tính sát giá bán buôn; hàng chậm luân chuyển, lỗi mốt, cận hạn phải chiết khấu mạnh; hàng hỏng hoặc hết hạn có thể bằng không hoặc âm (tốn chi phí tiêu huỷ).
Tránh dùng giá bán lẻ. Công ty nhận hàng chưa bán được cho ai cả. Ghi theo giá bán lẻ là đã tính trước cả lợi nhuận và công sức bán hàng mà công ty sẽ phải bỏ ra.
Quyền sở hữu phải rõ. Hàng đang ký gửi, hàng nhận gia công, hàng của nhà cung cấp chưa thanh toán đủ có điều khoản bảo lưu quyền sở hữu không thể đem góp.
Ví dụ giả định: góp một dây chuyền đóng gói và kho bao bì
Ví dụ giả định, chỉ minh hoạ cách tính. Bà Hạnh góp vào công ty mới một dây chuyền đóng gói dùng sáu năm và lô bao bì in sẵn. Chi phí thay thế mới cho dây chuyền tương đương, gồm vận chuyển và lắp đặt, là 4 tỷ đồng. Tuổi đời kinh tế ước 15 năm, nhưng nhờ bảo dưỡng tốt nên tuổi hiệu quả được đánh giá là 5 năm: hao mòn hữu hình khoảng 33%, còn 2,68 tỷ.
Dây chuyền đời mới chạy nhanh hơn và chỉ cần một công nhân mỗi ca thay vì hai. Phần chi phí nhân công thừa, vốn hoá trên thời gian sử dụng còn lại với suất chiết khấu hợp lý, được ước khoảng 0,4 tỷ: giá trị còn 2,28 tỷ. Công ty mới dự kiến chỉ dùng khoảng 70% công suất trong ba năm đầu, nhưng thị trường máy cũ cho thấy dây chuyền tương tự vẫn bán được, nên thẩm định viên không trừ thêm lạc hậu kinh tế, chỉ ghi chú rủi ro. Kiểm chéo thị trường thứ cấp cho khoảng 2,1 đến 2,4 tỷ.
Lô bao bì in sẵn có giá gốc 600 triệu, nhưng in nhãn của thương hiệu cũ mà công ty mới sẽ không dùng. Giá trị thuần có thể thực hiện được chỉ là giá bán phế liệu giấy, khoảng vài chục triệu. Đây là loại tài sản người góp hay đánh giá theo “số tiền đã bỏ ra”, trong khi với công ty nhận góp nó gần như không còn công dụng.
Chuyển giao, đăng ký và rủi ro sau khi góp
Máy móc không cần đăng ký quyền sở hữu thì việc góp vốn hoàn tất khi bàn giao có biên bản; phương tiện vận tải, thiết bị phải đăng ký thì phải làm thủ tục sang tên. Biên bản bàn giao nên mô tả tình trạng ở mức kỹ thuật (đã chạy thử, các lỗi đã biết, phụ kiện kèm theo), không chỉ ghi “hoạt động tốt”. Đó là căn cứ khi có tranh chấp về việc tài sản giao không đúng như lúc định giá.
Về thuế giá trị gia tăng và hoá đơn, việc góp vốn bằng tài sản nói chung có cách xử lý riêng so với bán hàng, thường dựa trên biên bản định giá và hồ sơ nguồn gốc tài sản; chi tiết phụ thuộc người góp là cá nhân hay doanh nghiệp và quy định từng thời kỳ, nên cần kiểm với kế toán hoặc cơ quan thuế.
Sau khi góp, doanh nghiệp nên mua bảo hiểm cho máy móc theo giá trị phù hợp với mục đích bảo hiểm (thường là chi phí thay thế), không đơn giản lấy giá trị góp vốn làm số tiền bảo hiểm. Hai con số phục vụ hai mục đích khác nhau: một để chia quyền sở hữu, một để khôi phục khả năng sản xuất khi có tổn thất.
Câu hỏi thường gặp
Có thể dùng giá trị còn lại trên sổ kế toán của người góp làm giá trị góp không?
Giá trị còn lại trên sổ là nguyên giá trừ khấu hao theo chính sách kế toán và thuế, không phản ánh tình trạng hay giá thị trường. Máy khấu hao hết vẫn có thể còn giá trị lớn; máy mới mua có thể đã mất giá nhanh. Sổ sách chỉ là dữ liệu tham khảo, không thay được định giá.
Máy nhập khẩu đã qua sử dụng có cách định giá khác không?
Phương pháp vẫn là chi phí và thị trường, nhưng cần thêm bước kiểm tra tính hợp pháp của việc nhập khẩu, tình trạng thực so với hồ sơ, và khả năng có phụ tùng, dịch vụ kỹ thuật trong nước. Máy khó tìm phụ tùng phải chiết khấu lạc hậu cao hơn dù tình trạng vỏ máy còn tốt.
Phần mềm điều khiển đi kèm máy có tính vào giá trị góp không?
Nếu bản quyền phần mềm được chuyển giao hợp pháp cùng máy và cần cho máy vận hành, nó là một phần của giá trị đang sử dụng. Nếu giấy phép gắn với tên người góp và không chuyển được, doanh nghiệp sẽ phải mua lại, nên chi phí đó phải được trừ khỏi giá trị góp.
Hàng tồn kho góp vốn có cần thẩm định giá độc lập không?
Không phải lúc nào cũng cần, nhất là khi hàng có giá giao dịch rõ ràng. Nhưng với lô lớn, hàng đặc thù hoặc hàng có tỷ lệ chậm luân chuyển cao, một bên độc lập kiểm kê và đánh giá giúp tránh tranh cãi. Điều bắt buộc về thực chất là biên bản kiểm kê cùng ngày.
Nếu máy hỏng nặng ngay sau khi góp thì giá trị góp có bị điều chỉnh không?
Giá trị góp gắn với thời điểm góp. Nếu hỏng do khuyết tật đã tồn tại mà người góp biết và che giấu, các thành viên có cơ sở yêu cầu xử lý theo trách nhiệm định giá cao hoặc theo thoả thuận. Nếu hỏng do sự cố sau bàn giao, đó là rủi ro của doanh nghiệp, nên bảo hiểm.
Có cần tính thuế nhập khẩu và lắp đặt vào chi phí thay thế không?
Có, nếu tiền đề giá trị là giá trị đang sử dụng tại nhà máy. Một máy tương đương đặt tại xưởng phải gồm giá mua, vận chuyển, thuế và phí nhập khẩu, lắp đặt, chạy thử. Nếu định giá theo giá trị trao đổi tại chỗ chưa lắp, các khoản này không được cộng.