Trong vụ án dân sự, người yêu cầu định giá (thường là nguyên đơn hoặc đương sự có yêu cầu) phải nộp tạm ứng chi phí định giá; khi vụ án kết thúc, chi phí được phân bổ theo kết quả giải quyết. Nguyên lý chung là bên có yêu cầu không được toà chấp nhận phải chịu; với yêu cầu chia tài sản chung, các bên thường chịu theo tỷ lệ giá trị phần tài sản mình được chia. Các bên cũng có thể tự thoả thuận về việc ai chịu.
Chi phí định giá thường không lớn so với giá trị tài sản, nhưng nó gắn với một khoản lớn hơn nhiều: án phí. Với tranh chấp có giá ngạch, án phí tính theo giá trị tài sản tranh chấp hoặc giá trị phần được hưởng, theo biểu luỹ tiến do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành. Vì vậy kết quả định giá không chỉ quyết định bạn được chia bao nhiêu, mà còn bạn phải nộp bao nhiêu cho Nhà nước.
Bài viết tách bạch các loại chi phí, giải thích nguyên tắc tạm ứng và chịu cuối cùng, mối liên hệ giữa định giá và án phí, và cách tính toán trước khi quyết định có đề nghị định giá hay định giá lại. Bài viết trình bày nguyên lý, không thay tư vấn của luật sư cho vụ việc cụ thể; mức phí, biểu án phí và quy định tố tụng cần kiểm theo văn bản hiện hành.
Phân biệt các khoản tiền trong một vụ án có tài sản
Đương sự hay gọi chung mọi khoản là "phí toà", nhưng về pháp lý chúng khác nhau về bản chất, người thu và nguyên tắc phân bổ:
| Khoản | Bản chất | Ai thu, dùng vào đâu | Nguyên tắc chịu cuối cùng (khái quát) |
|---|---|---|---|
| Tạm ứng án phí | Khoản nộp trước khi toà thụ lý | Nộp vào ngân sách qua cơ quan thi hành án | Được trừ vào án phí phải nộp hoặc trả lại |
| Án phí | Khoản phí tố tụng nộp ngân sách Nhà nước | Ngân sách | Theo kết quả: yêu cầu không được chấp nhận; chia tài sản theo phần được hưởng |
| Chi phí định giá tài sản | Chi phí thực tế cho hội đồng định giá làm việc | Chi trả cho hoạt động định giá | Bên có yêu cầu không được chấp nhận; chia tài sản theo tỷ lệ phần được chia |
| Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ | Chi phí cho toà xem xét hiện trạng, đo đạc | Chi cho hoạt động thẩm định tại chỗ | Tương tự chi phí định giá |
| Chi phí giám định | Chi phí trưng cầu giám định (chữ ký, kỹ thuật…) | Tổ chức giám định | Theo kết quả của yêu cầu liên quan |
| Phí luật sư, thẩm định độc lập do bạn thuê | Chi phí riêng của đương sự | Trả cho người cung cấp dịch vụ | Thường tự chịu, trừ khi luật hoặc thoả thuận có quy định khác |
Bảng chỉ mang tính khái quát; nguyên tắc cụ thể cho từng khoản nằm trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và nghị quyết về án phí, lệ phí toà án. Điểm cần nhớ: chi phí định giá do toà quyết định được phân bổ theo kết quả vụ án, còn tiền bạn tự thuê thẩm định bên ngoài thì về nguyên tắc tự chịu.
Ai tạm ứng: vì sao người yêu cầu phải bỏ tiền trước
Cơ chế tạm ứng giải quyết một vấn đề thực tế: hội đồng định giá cần kinh phí để làm việc (đi lại, khảo sát, thù lao cho thành viên) trước khi biết ai thắng ai thua. Nguyên lý là người có yêu cầu định giá nộp tạm ứng; trường hợp toà tự quyết định định giá vì các bên không thoả thuận được giá hoặc khai giá thấp bất thường, người phải tạm ứng được xác định theo quy định — thường là nguyên đơn hoặc người yêu cầu giải quyết vụ việc. Cách áp dụng chi tiết nên hỏi luật sư.
Hậu quả của việc không nộp tạm ứng đúng hạn có thể nghiêm trọng hơn nhiều người nghĩ. Khi định giá là cần thiết để giải quyết yêu cầu mà người có nghĩa vụ tạm ứng không nộp, toà có thể không tiến hành định giá được và việc giải quyết yêu cầu đó bị ảnh hưởng — trong một số tình huống có thể dẫn đến đình chỉ giải quyết yêu cầu. Đây là lý do cần đọc kỹ thông báo của toà và hỏi lại nếu không hiểu.
Mức tạm ứng được toà thông báo dựa trên dự toán chi phí thực tế, phụ thuộc loại tài sản, số lượng, khoảng cách và số thành viên hội đồng. Định giá một căn hộ trong đô thị thường đơn giản hơn nhiều so với định giá nhiều thửa đất, cây trồng, công trình ở vùng xa.
Một mẹo thực hành: nếu bạn và bên kia đều muốn định giá, nên cùng đề nghị và thoả thuận chia tạm ứng. Việc này vừa giảm gánh nặng ban đầu, vừa thể hiện cả hai chấp nhận thủ tục, giảm khả năng một bên sau này phản đối kết quả.
Ai chịu cuối cùng: logic "ai yêu cầu sai thì trả"
Nguyên tắc phân bổ cuối cùng phản ánh một logic quen thuộc của chi phí tố tụng: người gây ra chi phí bằng một yêu cầu không có căn cứ phải gánh chi phí đó. Nếu nguyên đơn kiện đòi một tài sản mà yêu cầu không được chấp nhận, nguyên đơn chịu chi phí định giá tài sản đó. Nếu yêu cầu được chấp nhận, bị đơn chịu. Chấp nhận một phần thì phân bổ tương ứng.
Với yêu cầu chia tài sản chung (chia tài sản vợ chồng, chia di sản thừa kế, chia tài sản đồng sở hữu), không có "bên thua" theo nghĩa thông thường: tài sản được chia cho tất cả. Nguyên lý khi đó là mỗi người chịu chi phí định giá tương ứng với tỷ lệ giá trị phần tài sản mình được chia. Người nhận 60% giá trị khối tài sản chịu 60% chi phí.
Với định giá lại, logic tương tự thường được áp dụng: nếu kết quả định giá lại xác nhận đề nghị có căn cứ, việc phân bổ có thể khác so với khi kết quả cho thấy lần trước đã đúng. Người cân nhắc đề nghị định giá lại nên tính trước kịch bản mình phải chịu toàn bộ chi phí lần hai.
Các đương sự luôn có thể thoả thuận khác về việc ai chịu chi phí định giá, và toà thường ghi nhận thoả thuận đó khi không trái pháp luật. Trong hoà giải, chi phí định giá hay được dùng làm một khoản nhượng bộ nhỏ để đi đến thoả thuận lớn.
Vì sao giá trị tài sản quyết định án phí — và tạo động cơ khai thấp
Với tranh chấp có giá ngạch, án phí được tính theo biểu luỹ tiến dựa trên giá trị tài sản: giá trị càng lớn, án phí tuyệt đối càng lớn, dù tỷ lệ phần trăm ở các bậc cao có thể thấp hơn. Trong chia tài sản chung, mỗi người thường chịu án phí theo giá trị phần mình được hưởng. Biểu cụ thể và các mức nằm trong nghị quyết về án phí, lệ phí toà án — cần tra bản hiện hành.
Hệ quả là các bên có động cơ chung khai thấp giá trị tài sản để giảm án phí, kể cả khi họ đang tranh chấp gay gắt về mọi thứ khác. Pháp luật tố tụng lường trước điều này: toà có quyền định giá khi giá các bên thoả thuận thấp so với thị trường nhằm né nghĩa vụ với Nhà nước. Khai thấp vì thế không chỉ có thể vô hiệu mà còn kéo theo chi phí định giá.
Nhưng động cơ khai thấp không đối xứng giữa các bên. Trong chia tài sản, bên nhận hiện vật được lợi từ giá thấp (phải thanh toán chênh lệch ít hơn), còn bên nhận tiền chịu thiệt. Ví dụ giả định: căn nhà thật sự đáng 6 tỷ đồng, hai bên mỗi người một nửa. Nếu thoả thuận giá 4 tỷ để giảm án phí, người nhận nhà chỉ trả 2 tỷ thay vì 3 tỷ. Khoản án phí tiết kiệm được nhỏ hơn rất nhiều so với 1 tỷ mà người nhận tiền mất.
Bài học: trước khi đồng ý một mức giá thấp "cho đỡ án phí", hãy tính xem mình là bên nhận hiện vật hay nhận tiền. Với người nhận tiền, khoản tiết kiệm án phí gần như luôn nhỏ hơn phần chênh lệch bị mất.
Tính trước trước khi đề nghị định giá hoặc định giá lại
Định giá là quyết định có chi phí và có rủi ro. Một phép tính đơn giản giúp tránh những đề nghị không đáng:
- Ước tính khoảng giá hợp lý từ dữ liệu giao dịch hoặc một chứng thư độc lập, thay vì dựa vào mong muốn.
- Tính tác động tiền thật lên phần của bạn: chênh lệch giữa kết quả hiện có và khoảng giá hợp lý, nhân với tỷ lệ mình được hưởng hoặc phải thanh toán.
- Trừ đi chi phí: tạm ứng chi phí định giá (có thể phải chịu toàn bộ), phần án phí tăng thêm nếu giá trị tăng, thời gian vụ án kéo dài thêm, phí luật sư.
- Cân xác suất: đề nghị có căn cứ kiểm chứng được (sai diện tích, bỏ sót tài sản) có khả năng được chấp nhận cao hơn đề nghị chỉ dựa trên cảm nhận về giá.
- So với phương án thoả thuận: cùng bên kia thuê một tổ chức thẩm định độc lập, hoặc thương lượng trực tiếp một mức giá ở giữa.
Ví dụ giả định: bạn được nhận 50% tiền chênh lệch từ căn nhà, biên bản định giá 5 tỷ, bạn tin giá đúng là 5,3 tỷ. Phần lợi tiềm năng là 150 triệu. Nếu chi phí định giá lại, phần án phí tăng thêm và vài tháng kéo dài cộng lại đáng kể, trong khi khả năng được chấp nhận không cao, thì đề nghị có thể không đáng. Nếu biên bản bỏ sót cả một tầng nhà, phép tính hoàn toàn khác.
Miễn, giảm và những trường hợp đặc biệt
Một số nhóm được miễn hoặc giảm án phí. Quy định về án phí có danh mục người được miễn, giảm như người có hoàn cảnh khó khăn theo tiêu chí luật định và một số nhóm đối tượng chính sách. Việc miễn án phí không đương nhiên kéo theo miễn chi phí định giá; cần hỏi riêng từng khoản.
Hoà giải thành có thể giảm gánh nặng. Khi các bên hoà giải thành trước khi mở phiên toà, án phí thường được tính theo hướng giảm so với khi xét xử. Thoả thuận được cả giá lẫn cách chia trước khi toà phải định giá tiết kiệm được cả hai khoản.
Rút yêu cầu. Nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc rút yêu cầu sau khi đã định giá vẫn có thể phải chịu chi phí định giá đã phát sinh. Hãy cân nhắc kỹ trước khi đề nghị định giá nếu chưa chắc theo kiện đến cùng.
Tài sản ở nhiều nơi. Định giá tài sản ở nhiều địa phương làm chi phí tăng và thời gian kéo dài. Ưu tiên thoả thuận giá cho những tài sản ít tranh cãi, chỉ đề nghị định giá cho tài sản thật sự bất đồng.
Câu hỏi thường gặp
Nếu bị đơn yêu cầu định giá thì bị đơn có phải tạm ứng không?
Nguyên lý chung là người có yêu cầu định giá nộp tạm ứng chi phí. Nếu chính bị đơn đề nghị định giá, bị đơn thường là người tạm ứng. Chi phí cuối cùng vẫn được phân bổ theo kết quả giải quyết vụ án, không phụ thuộc ai đã tạm ứng.
Chi phí định giá có được ghi trong bản án không?
Có. Bản án hoặc quyết định thường ghi rõ việc phân bổ chi phí định giá, xem xét thẩm định tại chỗ và các chi phí tố tụng khác: ai phải chịu, số tiền, việc hoàn trả tạm ứng cho người đã nộp trước.
Đã nộp tạm ứng mà cuối cùng thắng thì được lấy lại thế nào?
Bản án sẽ xác định bên phải chịu chi phí và nghĩa vụ hoàn trả cho người đã tạm ứng. Nếu bên kia không tự nguyện trả, khoản này được thi hành như một nghĩa vụ trong bản án thông qua cơ quan thi hành án dân sự.
Khai thấp giá trị tài sản trong đơn khởi kiện có bị phạt không?
Khai giá trong đơn không tự nó là hành vi bị phạt, nhưng toà có quyền định giá khi giá khai thấp bất thường so với thị trường. Kết quả là án phí vẫn tính theo giá trị đúng, cộng thêm chi phí định giá mà bên khai thấp có thể phải chịu.
Tranh chấp không có giá ngạch thì có tốn chi phí định giá không?
Tranh chấp không có giá ngạch, như yêu cầu công nhận một quyền không gắn với giá trị tài sản cụ thể, thường không cần định giá và án phí theo mức cố định. Nhưng nếu trong vụ án phát sinh yêu cầu liên quan đến giá trị tài sản thì vẫn có thể cần định giá.