Khi thành viên công ty tranh chấp hoặc muốn rút ra, phần vốn góp được định giá như một phần quyền sở hữu doanh nghiệp: định giá toàn bộ công ty rồi tính phần tương ứng, và sau đó quyết định có áp chiết khấu cho tính thiểu số và khó chuyển nhượng hay không. Câu hỏi thứ hai thường quyết định kết quả nhiều hơn câu hỏi thứ nhất: cùng một doanh nghiệp, phần vốn 20% có thể được định giá chênh nhau hàng chục phần trăm tuỳ có chiết khấu hay không.
Luật Doanh nghiệp 2020 cho thành viên công ty TNHH và cổ đông công ty cổ phần quyền yêu cầu công ty mua lại phần vốn, cổ phần trong một số trường hợp (như khi họ không tán thành nghị quyết về tổ chức lại công ty hoặc thay đổi quyền, nghĩa vụ của mình), với giá theo giá thị trường hoặc theo nguyên tắc ghi trong điều lệ. Ngoài ra, phần vốn góp cần định giá khi chia tài sản ly hôn, chia thừa kế, giải quyết bế tắc giữa các thành viên, hay khi một thành viên bị khai trừ theo điều lệ.
Bài viết giữ góc nhìn tranh chấp: các tình huống pháp lý dẫn tới định giá, khác biệt giữa "giá trị thị trường" và "giá trị hợp lý", tranh luận về chiết khấu thiểu số, và vai trò của điều lệ. Phương pháp định giá doanh nghiệp chi tiết đã có ở danh mục thẩm định giá doanh nghiệp của site và bài về M&A ở site chuyên về hợp tác. Bài viết trình bày nguyên lý, không thay tư vấn của luật sư cho vụ việc cụ thể; mức phí, biểu án phí và quy định tố tụng cần kiểm theo văn bản hiện hành.
Các tình huống dẫn tới định giá phần vốn trong tranh chấp
Phần vốn góp trong công ty không niêm yết không có giá giao dịch hằng ngày, nên mỗi khi quyền sở hữu phải chuyển dịch không tự nguyện, một con số phải được tạo ra. Các tình huống hay gặp:
- Yêu cầu công ty mua lại phần vốn, cổ phần theo quyền luật định khi thành viên, cổ đông phản đối một số nghị quyết quan trọng. Luật Doanh nghiệp quy định giá theo giá thị trường hoặc theo nguyên tắc điều lệ; điều kiện, thời hạn và thủ tục cụ thể cần kiểm văn bản hiện hành.
- Bế tắc giữa các thành viên: hai nhóm ngang quyền không thông qua được quyết định nào. Điều lệ hoặc thoả thuận giữa các thành viên có thể có cơ chế một bên mua lại bên kia; không có thì tranh chấp ra toà hoặc trọng tài.
- Khai trừ hoặc buộc chuyển nhượng theo điều lệ, ví dụ thành viên vi phạm nghĩa vụ góp vốn, cạnh tranh với công ty.
- Ly hôn: phần vốn hình thành trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung, cần định giá để chia hoặc tính chênh lệch.
- Thừa kế: người thừa kế có thể không được hoặc không muốn trở thành thành viên; phần vốn cần quy ra giá trị.
- Tranh chấp về việc góp vốn bằng tài sản bị định giá sai lúc góp — tình huống liên quan nhưng thuộc góc định giá tài sản góp vốn, được bàn ở danh mục riêng của site.
Điểm chung của các tình huống trên: một bên bán không tự nguyện hoặc bên mua không được chọn, nên không có "người mua và người bán sẵn lòng" như định nghĩa chuẩn của giá trị thị trường. Đây là gốc của mọi tranh luận về chiết khấu.
Giá trị thị trường và giá trị hợp lý: hai câu hỏi khác nhau
Giá trị thị trường theo nghĩa thẩm định giá là mức giá ước tính mà tài sản được giao dịch giữa người mua và người bán sẵn lòng, độc lập, có hiểu biết, không bị ép buộc. Áp vào một phần vốn thiểu số trong công ty gia đình: người mua bên ngoài sẵn lòng trả bao nhiêu cho 20% vốn của một công ty mà họ không kiểm soát, không bán lại dễ dàng, và phải làm ăn cùng những thành viên đang tranh chấp? Thường là thấp hơn nhiều so với 20% giá trị toàn công ty.
Giá trị hợp lý (fair value) trong ngữ cảnh pháp lý về quyền của cổ đông thiểu số ở một số hệ thống pháp luật — tiêu biểu là thủ tục định giá theo yêu cầu cổ đông (appraisal) ở bang Delaware, Hoa Kỳ — được hiểu là phần tương ứng của cổ đông trong giá trị doanh nghiệp đang hoạt động, thường không áp chiết khấu thiểu số và thanh khoản ở cấp cổ đông. Logic là: cổ đông bị buộc rời đi không nên bị phạt vì chính tình trạng thiểu số mà đa số đã lợi dụng.
Cần lưu ý thuật ngữ "giá trị hợp lý" cũng xuất hiện trong chuẩn mực kế toán với nghĩa khác; khi đọc tài liệu, phải xác định đang dùng theo nghĩa nào. Pháp luật Việt Nam về quyền yêu cầu mua lại dùng cách diễn đạt "giá thị trường" hoặc giá theo nguyên tắc điều lệ, và việc có áp chiết khấu hay không không được quy định chi tiết — đó là lý do điều lệ và thoả thuận giữa các thành viên trở nên quan trọng.
Từ góc nhìn đương sự: bên mua lại (công ty, nhóm đa số) có lợi khi lập luận theo giá trị thị trường có chiết khấu; bên bị mua lại (thiểu số) có lợi khi lập luận theo phần tương ứng không chiết khấu. Cả hai đều có cơ sở lý thuyết, và kết quả phụ thuộc văn bản điều chỉnh, điều lệ và đánh giá của cơ quan giải quyết tranh chấp.
Chiết khấu thiểu số và chiết khấu thanh khoản
Hai loại chiết khấu hay được áp cho phần vốn trong công ty không niêm yết. Chúng khác nhau về lý do và cần được lập luận riêng, tránh áp chồng vô căn cứ:
| Chiết khấu thiếu quyền kiểm soát (thiểu số) | Chiết khấu thiếu thanh khoản | |
|---|---|---|
| Lý do kinh tế | Người nắm phần thiểu số không quyết định được cổ tức, lương thưởng, chiến lược, bán công ty | Không có thị trường để bán nhanh phần vốn với chi phí thấp |
| Áp dụng khi | Định giá xuất phát từ góc nhìn kiểm soát toàn công ty, rồi tính phần thiểu số | So với cổ phần tương tự có giao dịch tự do |
| Bằng chứng thường được trích | Phần bù kiểm soát trong các thương vụ mua lại | Nghiên cứu về cổ phiếu hạn chế chuyển nhượng và giao dịch trước khi niêm yết |
| Khi tranh luận mạnh nhất | Đa số đã dùng quyền kiểm soát để lấy lợi ích riêng | Điều lệ hạn chế chuyển nhượng cho người ngoài |
| Khi có thể không phù hợp | Người mua chính là nhóm đa số hoặc công ty, sẽ hợp nhất quyền kiểm soát | Mục đích là trả cho thành viên phần giá trị tương ứng, không phải bán ra thị trường |
Mức chiết khấu trong thực hành quốc tế dao động rộng và gây tranh cãi; không có một tỷ lệ chuẩn áp cho mọi trường hợp. Một báo cáo định giá tốt phải giải thích vì sao áp hoặc không áp, và căn cứ cho mức áp dụng, thay vì trừ một con số quen tay.
Một điểm kỹ thuật hay bị bỏ qua: nếu giá trị toàn công ty được tính bằng dòng tiền đã phản ánh cách quản lý hiện tại (kể cả việc đa số rút lợi ích qua lương thưởng cao, giao dịch với bên liên quan), thì áp thêm chiết khấu thiểu số có thể là phạt hai lần. Điều chỉnh dòng tiền về mức bình thường trước khi định giá là bước chuyên gia nên làm và đương sự nên hỏi.
Định giá phần vốn trong tranh chấp: trình tự hợp lý
Dù do thẩm định viên độc lập hay hội đồng định giá thực hiện, một quy trình đáng tin cậy thường gồm các bước:
- Xác định cơ sở giá trị và thời điểm theo văn bản điều chỉnh: điều lệ, thoả thuận thành viên, quy định Luật Doanh nghiệp, hoặc yêu cầu của toà. Thời điểm có thể là ngày thông qua nghị quyết bị phản đối, ngày yêu cầu mua lại, hay ngày giải quyết.
- Chuẩn hoá báo cáo tài chính: tách tài sản và chi phí cá nhân khỏi doanh nghiệp, điều chỉnh lương thưởng của thành viên điều hành về mức thị trường, loại giao dịch bất thường với bên liên quan.
- Định giá toàn bộ doanh nghiệp bằng một hoặc nhiều cách tiếp cận: tài sản (giá trị tài sản thuần đã điều chỉnh), thu nhập (dòng tiền chiết khấu, vốn hoá lợi nhuận), thị trường (bội số từ doanh nghiệp tương tự). Đối chiếu kết quả giữa các cách.
- Tính phần tương ứng theo tỷ lệ vốn, có xét các quyền đặc biệt (cổ phần ưu đãi, quyền phủ quyết) nếu có.
- Quyết định chiết khấu hoặc phần bù với lập luận rõ ràng gắn với mục đích định giá và văn bản điều chỉnh.
- Trình bày khoảng giá và độ nhạy với các giả định then chốt: tốc độ tăng trưởng, tỷ suất chiết khấu, mức chiết khấu thiểu số.
Bước hai thường bị coi nhẹ nhưng có tác động lớn nhất trong tranh chấp nội bộ công ty gia đình. Khi thành viên đa số đã điều hành nhiều năm, báo cáo tài chính phản ánh lựa chọn của họ; định giá dựa nguyên trạng có thể đánh giá thấp doanh nghiệp đáng kể.
Điều lệ và thoả thuận thành viên: định giá trước khi tranh chấp
Cơ chế định giá trong điều lệ là cách rẻ nhất để tránh tranh chấp về giá. Luật Doanh nghiệp cho phép giá mua lại xác định theo nguyên tắc điều lệ. Một điều khoản tốt nêu rõ: ai định giá (một tổ chức thẩm định độc lập do hai bên chọn, hoặc mỗi bên chọn một và lấy trung bình), cơ sở giá trị, có áp chiết khấu không, thời hạn thanh toán.
Công thức cố định nghe đơn giản nhưng hay lỗi thời. Ví dụ "giá bằng giá trị sổ sách" hoặc "bằng N lần lợi nhuận năm gần nhất". Sau vài năm, công thức có thể cho kết quả vô lý so với giá trị thật, đặc biệt với doanh nghiệp có tài sản vô hình lớn hoặc lợi nhuận biến động.
Cơ chế shotgun và các cơ chế phá bế tắc. Một bên đưa giá, bên kia chọn mua hay bán ở giá đó — tạo động cơ đưa giá trung thực. Cơ chế này phù hợp khi hai bên có năng lực tài chính tương đương; khi không, bên mạnh tiền có lợi thế.
Ghi rõ chuyện chiết khấu. Chỉ một câu "giá mua lại được tính theo tỷ lệ vốn trên giá trị toàn doanh nghiệp, không áp chiết khấu thiểu số và thanh khoản" có thể tránh được tranh chấp kéo dài hàng năm. Ngược lại, nếu các bên muốn áp chiết khấu, cũng nên ghi rõ.
Rà lại định kỳ. Điều khoản định giá viết lúc thành lập công ty có thể không còn phù hợp khi công ty lớn lên, có nhà đầu tư mới. Rà lại khi có thay đổi lớn về cơ cấu sở hữu.
Câu hỏi thường gặp
Công ty không đồng ý giá mua lại thì thành viên làm gì?
Theo cơ chế của Luật Doanh nghiệp, nếu không thoả thuận được giá mua lại hoặc công ty không mua, thành viên có quyền chuyển nhượng phần vốn cho người khác theo quy định. Khi có tranh chấp về quyền và giá, có thể giải quyết tại toà án hoặc trọng tài nếu có thoả thuận. Hỏi luật sư về thời hạn và thủ tục cụ thể.
Giá trị sổ sách của phần vốn có phải là giá để mua lại không?
Không đương nhiên. Giá trị sổ sách phản ánh số liệu kế toán theo giá gốc, có thể khác xa giá trị thị trường, nhất là với doanh nghiệp có bất động sản tăng giá hoặc tài sản vô hình không ghi sổ. Chỉ khi điều lệ quy định dùng giá trị sổ sách thì nó mới là căn cứ.
Cổ đông thiểu số có được xem sổ sách để kiểm tra định giá không?
Thành viên và cổ đông có quyền tiếp cận thông tin theo Luật Doanh nghiệp và điều lệ, với mức độ khác nhau tuỳ loại hình và tỷ lệ sở hữu. Trong tranh chấp tại toà, có thể đề nghị toà yêu cầu cung cấp tài liệu. Thông tin đầy đủ là điều kiện để định giá đúng.
Có nên thuê thẩm định giá độc lập trước khi yêu cầu mua lại không?
Thường là nên. Biết khoảng giá hợp lý giúp bạn quyết định có thực hiện quyền yêu cầu mua lại không, đàm phán hiệu quả và có căn cứ khi tranh chấp. Chọn đơn vị có kinh nghiệm định giá doanh nghiệp không niêm yết và ghi rõ mục đích trong hợp đồng.
Chiết khấu thiểu số có được áp khi chia phần vốn trong ly hôn không?
Đây là câu hỏi còn tranh luận. Lập luận áp chiết khấu dựa trên giá trị thị trường thật của phần vốn; lập luận không áp dựa trên việc vợ chồng chia giá trị kinh tế tương ứng, không bán ra ngoài. Cách xử lý phụ thuộc đánh giá của toà và báo cáo định giá cụ thể.